Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian". Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.
Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.
Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ...
Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca... Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.
Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.
Một số câu tục ngữ thông dụng
Trích dẫn:
Anh em như thể tay chân
Anh em xa thua láng giềng gần.
Đời cha ăn mặn đời con khát nước.
Cha mẹ sinh con, trời sinh tính.
Có công mài sắt có ngày nên kim.
Có tiền mua tiên cũng được.
Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi
Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
Cười người chớ khá cười lâuCười người hôm trước hôm sau người cười.
Đi một ngày đàng học một sàng khôn.
Không ăn gắp bỏ cho người.
Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, đồng tiền đi sau là đồng tiền dại.
Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
Họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai.
Khôn ba năm dại một giờ.
Không thầy đố mày làm nên.
Một cây làm chẳng lên nonBa cây chụm lại nên hòn núi cao.
Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.
Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nước thì thương nhau cùng.
Một điều nhịn chín điều lành.
Nhà khó cậy vợ hiền, nước loạn nhờ tướng giỏi.
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.
Thức lâu mới biết đêm dàiỞ lâu mới biết lòng người thẳng ngay.
Thương thì trái ấu cũng tròn, không thương thì quả bồ hòn cũng méo.
Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp.
Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
Trẻ cậy cha, già cậy con
Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân
Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.
Chớp đông nhay nháy gà gáy thì mưa.
Thấy người sang bắt quàng làm họ.